Sài Gòn: Đến thăm quần thể lăng mộ Ông Thượng và Ông Tổng ngay tại quận 2

Phan Anh Khang
28/02/2019 18:49
0

Ở Gò Quéo (ấp Đông, P.Bình Trưng Đông, Q.2, TP.HCM), có một quần thể mộ cổ gồm 15 ngôi mộ. Trong số đó chỉ 2 ngôi mộ lớn có bia, được xác định là của hai cha con Triệt Thanh hầu Phạm Quang Triệt và con là Tuần phủ Bắc Ninh Phạm Duy Trinh.

Hai ngôi mộ linh thiêng

Lăng mộ tọa lạc trên một vùng gò rộng lớn cao hơn 2 m, được bao quanh bởi rạch Giồng Ông Tố. 13 mộ đã mất bia, 2 ngôi mộ còn bia tuy bị hư hại nhiều nhưng trông vẫn còn rất hoành tráng, cư dân ở đây gọi là lăng Ông Thượng (lăng Ngài Triệt) và lăng Ông Tổng (lăng Ngài Trinh), hay nghĩa trang họ Phạm. Dân quanh vùng nói hai ngôi mộ này rất linh thiêng, họ thường đến lễ bái, quét dọn.

Mộ ông Phạm Duy Trinh 

Hai ngôi mộ có bia ấy kề cận nhau, hình thể uy nghi. Ngôi mộ thứ nhất được xây dựng vào năm Kỷ Mão 1819, làm bằng hợp chất cổ (ô dước). Khu mộ bình đồ hình chữ nhật, dài 8,5 m, rộng 5,5 m. Kiến trúc từ ngoài vào trong như sau: bình phong tiền, ngôi mộ hình chữ nhật và bình phong hậu gắn liền với vòng tường bao xung quanh. Mặt trước bình phong tiền có ô hộc trang trí hình chữ nhật, bên trong có hình kỳ lân (long mã) nhưng đã phai mờ theo thời gian. Cửa mộ có hai trụ gắn vào tường bao. Trên đầu cột trụ có chạm búp sen nhưng đã sứt mẻ nhiều. Các đoạn tường bao dày trung bình hơn 0,5 m. Nấm mộ dạng hình chữ nhật giật 2 cấp cao khoảng 0,3 m so với nền đất và bị nứt, hỏng nhiều trên bề mặt mộ. Gắn chặt vào chân mộ là tấm bia làm bằng đá Non Nước (Đà Nẵng), khắc 45 chữ Hán: “Hoàng Việt. Hiển khảo Đồng Đức công thần Phụng trực đại phu chính trị khanh, Lại bộ Tả tham tri, Triệt thanh hầu, thụy Đôn Mẫn quý công chi mộ. Gia Long Kỷ Mão niên, nhuận nguyệt cốc đán. Tự tử Quang Chiêm lập bi” (Nước Hoàng Việt. Mộ Đồng Đức công thần Phụng trực đại phu chính trị khanh, Lại bộ Tả tham tri, Triệt Thanh hầu Phạm Quang Triệt, thụy Đôn Mẫn. Con nuôi là Quang Chiêm lập bia mộ ngày tốt tháng nhuận năm 1818 niên hiệu Gia Long – Kỷ Mão). Kết thúc là bình phong hậu gắn liền với bờ thành. Bình phong rộng 2,1 m chia thành 5 ô dọc hình chữ nhật, lại có những ô ngang nhỏ như cánh cửa gỗ thường thấy hiện nay. Viền bao quanh bình phong hậu trang trí hình cúc dây, hai bên bình phong có vành quai hình cuốn thư cao 1,2 m uốn lượn, được làm rất công phu và có tính nghệ thuật cao.

Ngôi mộ thứ hai được xây dựng vào năm Tân Hợi 1851, gồm các kiến trúc: cổng và bình phong tiền, mộ hình chữ nhật, bình phong hậu gắn liền với vòng tường bao quanh. Bia mộ cũng làm bằng đá Non Nước khắc 51 chữ Hán: “Đại Nam. Hiển khảo, nguyên thụ Trung phụng đại phu, Binh bộ Tả tham tri, Bắc Ninh tuần phủ, hộ lý Ninh – Thái tổng đốc quan phòng Phạm lượng phủ, thụy Trang Khải, phủ quân chi mộ. Tuế thứ Tân Hợi, mạnh hạ cát đản. Tự tử Quang Bạc lập bi”. (Nước Đại Nam. Mộ người trước đây được phong Trung phụng đại phu, Binh bộ Tả tham tri, Bắc Ninh tuần phủ, Hộ lý Ninh – Thái Tổng đốc quan phòng Phạm Duy Trinh, thụy Trang Khải. Con nuôi là Quang Bạc lập bia mộ ngày tốt tháng tư năm 1851 – Tân Hợi).

Năm 1998, nhân kỷ niệm Sài Gòn – TP.HCM 300 năm, Bảo tàng Lịch sử VN đã đưa 2 bia mộ này về trưng bày tại bảo tàng.

Gò Quéo (Gò Cát) là một gò rộng lớn cao 2,5 m bao quanh bởi rạch Giồng Ông Tố. Quần thể mộ có hai ngôi mộ cổ từ thời vua Gia Long 18 và vua Tự Đức 4 là ngôi mộ ông Triệt thanh hầu Phạm Quang Triệt và mộ ông Phạm Duy Trinh. 

Người dân ở đây gọi là lăng Ông Thượng (lăng ngài Triệt) và lăng Ông Tổng (lăng ngài Trinh) và gọi khu mộ này là nghĩa trang họ Phạm. Hai mộ cổ của ông Phạm Duy Trinh và Phạm Quang Triệt.

Dân quanh vùng nói hai ngôi mộ này rất linh thiêng, họ thường đến lễ bái, quét dọn. Họ còn treo đèn điện trước lăng thắp sáng mỗi đêm. Trong ảnh: Bảng thông tin về lịch sử khu mộ được đặt tại khu mộ cổ.

Các cơ quan chức năng đều xác nhận có nhiều khả năng là nghĩa trang họ Phạm bị hoang phế, hai tấm bia mộ hiện được lưu giữ và trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam TP.HCM.

Ông Phạm Duy Trinh – người tổng Bình Trị, huyện Bình Dương, phủ Tân Bình, trấn Phiên An. Ông đỗ cử nhân Trường Gia Định khoa thi năm 1825; nguyên là Hộ phủ huyện Phước An, làm Tuần phủ Bắc Ninh, Hộ lý Ấn quan phòng Tổng đốc Ninh Thái năm 1847. Mộ ông Phạm Duy Trinh dài 8,7 m, rộng 6,9 m, cao 2,4 m, bị nước mưa xâm thực mạnh làm lộ móng tường thành sâu khoảng 1,2 m.
Quách bị đào phá để trộm của, bia mộ bị bứng dỡ, các trụ và tường thành, bình phong tiền đều nứt vỡ.

Toàn bộ ngôi mộ gồm các kiến trúc: Cổng và bình phong tiền, ngôi mộ hình chữ nhật, bình phong hậu, có tường bao xung quanh, kiến trúc ngôi mộ được xây dựng bằng hợp chất ô dước.

Bia mộ hiện được lưu giữ và trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam TP.HCM.

Bề mặt toàn bộ kiến trúc bị bong tróc nặng nên không thể nhận diện đề tài trang trí cũng như chữ trên các trụ, tường thành và bình phong.
Bình phong hậu của ngôi mộ cổ.

Phần mộ bị nứt, cây cỏ mọc khắp nơi.

Rễ cây bám chặt xung quanh tường thành ngôi mộ.

Ngôi mộ thứ hai là của ông Phạm Quang Triệt. Theo “Đại Nam chính biên liệt truyện” và “Đại Nam thực lục”, ông là em họ Phạm Như Đăng, quê gốc Quảng Nam, sau đến ở Gia Định.

Ông Phạm Quang Triệt là người cương quyết, ngay thẳng, học cao. Thời Trung hưng sơ (1794), ông sung vào Viện Cống sĩ, chuyển sang Thị học Viện Hàn lâm; năm Gia Long 14 (1815) thăng tả tham tri Bộ Lại. Năm Gia Long 15, ông sách lập hoàng thái tử (vua Minh Mạng sau này), được phong làm quan phụng chiếu. Ông mất năm Gia Long 17. Trong ảnh: Bình phong tiền trước mộ với hình hoa văn nhưng đã phai không còn nhận ra.

Bình phong tiền phía trước mộ bám đầy rêu, nứt nẻ, xuống cấp nghiêm trọng.

Từ ngoài vào là bình phong tiền, hai cột trụ, tường bao quanh mộ, phần mộ và bình phong hậu.

Những hoa văn trên bình phong và hai trụ cột vào ngôi mộ bị phai dần đi.

Lối vào mộ có các trụ cột đài sen hình khối chữ nhật.

Hai cột trụ trên đầu có búp sen đã bị rơi rớt dần qua thời gian.

Tường bao quanh ngôi mộ, phía sau là bình phong hậu của ngôi mộ.

Ngôi mộ được giật hai cấp, rêu xanh bám đầy trên thành mộ.

Rễ cây bám chặt trên tường bao quanh ngôi mộ.

Các trụ cột dù bong tróc nhưng vẫn còn chắc chắn.

Một lỗ thủng trên bức phong tiền ngôi mộ nhìn thấu vào bia.

Một trong những ngôi mộ đã bị đào trong khu mộ cổ.

Khoanh vùng bảo vệ khu mộ cổ

Sách Đại Nam chánh biên liệt truyện (do các sử quan biên soạn, hoàn thành cuối năm 1889) ghi: “Phạm Quang Triệt, tổ tiên người H.Diên Phước (Quảng Nam), sau đến ở Gia Định, là em họ Hình Bộ Thượng thư Phạm Như Đăng. Triệt là người cương trực có học thuật. Năm Gia Long thứ 14 (1815) thăng Lại Bộ Tả Tham tri. Năm thứ 15, sách lập Hoàng Thái Tử (Minh Mạng sau này) Triệt được phong làm quan Phụng chiếu năm thứ 17 (1818) chết”. Còn trong Đại Nam thực lục chánh biên cũng có ghi: “Cuối năm 1794, Phạm Quang Triệt được thăng từ Cống Sĩ Viện lên Hàn Lâm Viện Thị Học theo sự bảo cử của Cương Đồng (Đình thần). Đầu năm 1803 (năm Gia Long thứ 2) được cử làm Phiên Trấn Dinh Ký Lục. Năm 1813 làm Lại Bộ Tả Tham tri, lúc đó Lại Bộ Thượng thư là Trịnh Hoài Đức, Hữu Tham tri là Võ Thanh Trung”.

Còn thông tin về Tuần phủ Bắc Ninh, Hộ lý Ninh – Thái (Ninh Bình và Thái Bình) Tổng đốc Phạm Duy Trinh thì hầu như không có. Tuy nhiên, nhận được nhiều thông tin liên quan đến 2 ngôi mộ này, dòng tộc họ Phạm ở Huế (đại diện là các ông Phạm Tất Đạt, Phạm Như Lợi, Phạm Lương Quang…) đã nhiều lần vào TP.HCM liên lạc và ghi nhận hai nhân vật này có liên quan mật thiết với dòng tộc của họ, cụ thể là 2 mộ tổ thuộc Phái Nhất, Chi Hai đã thất lạc lần 200 năm nay. Đối chiếu gia phả với các tư liệu, bia ký của hai ngôi mộ cổ các ông Đạt, Lợi, Quang chắc chắn hai ngôi mộ đó là mộ ngài Phạm Quang Triệt và ngài Phạm Duy Trinh. Các ông đề xuất đem lư hương hai ngôi mộ đó nhập vào nhà thờ họ Phạm ở Truồi, Phú Lộc, Thừa Thiên-Huế, để thờ cúng.
Phan Anh Khang
0 điểm/0 đánh giá (của bạn: chưa có)

Hãy chia sẽ những điều bổ ích đến những người thân thương của bạn !


Bình luận