Visa mới TSS/186/187 sẽ bắt đầu có hiệu lực vào ngày 18/3/2018( phần 1)

Lan Anh
16/03/2018 15:32
0

Vào ngày 15/3/2018, chính phủ Úc công bố chương trình TSS với 2 tiểu loại visa 186 và 187. Chương trình này sẽ có hiệu lực kể từ ngày 18/03/2018.

Newsvietuc-Dưới đây là các điểm đáng chú ý của dòng visa TSS, cũng như một loạt các thay đổi đối với tiểu loại visa 186 và 187 mà trước đây chưa được Bộ Nội Vụ công bố. Người viết xin phân tích bản pháp chế số F2018L00262 như sau:


TSS – tiểu loại 482

Kể từ ngày 18/03/2018, yêu cầu đối với ứng viên bảo lãnh Doanh Nghiệp Tiêu Chuẩn (SBS) phải đáp ứng tiêu chuẩn về các Chuẩn đào tạo A hoặc B đã được loại bỏ. Hiện tại vẫn chưa có thông tin rõ ràng về yêu cầu liên quan đến phí đào tạo thuộc Quỹ đào tạo kỹ năng Úc (SAF).

Tuy nhiên, kể từ 18/03/2018 cho đến khi SAF được triển khai trong tương lai thì không cần phải chứng minh các bằng chứng đạt Chuẩn đào tạo A hoặc B cho các đơn xin SBS và hồ sơ đề cử TSS mới. Các yêu cầu về trách nhiệm đào tạo được giữ nguyên đối với đơn xin SBS đã được cấp. Phí đào tạo SAF được cho rằng sẽ được triển khai trong những tuần tới và sẽ được áp đặt đối với các hồ sơ đề cử TSS mới.

Pháp chế cũng thể hiện ý định của Bộ Trưởng hạn chế số lượng tối đa người lao động được đề cử trên mỗi thỏa thuận về chế độ bảo lãnh Doanh Nghiệp Tiêu Chuẩn SBS. Quy định về con số hợp lý đã được gỡ bỏ.

Mở rộng quy định 2.60S(2) bằng cách cấm thu hồi chi phi phí đối với đương đơn xin TSS và các dạng không thuộc SBS đề cử khác, bao gồm cả chi phí trả cho các đại diện di trú. Ngoài ra một điều khoản về hoàn tiền cũng được thêm vào cho các đơn xin SBS. Điều này được cho là lỗi của Bộ Nội Vụ.

Quy định 2.63A cũng được mở rộng, kỳ hạn mới dành cho các phê duyệt SBS của các doanh nghiệp bảo lãnh SBS hiện tại sẽ bắt đầu ngay sau khi kỳ hạn hiện có kết thúc. Việc thay đổi các điều khoản đã được chấp thuận cho SBS không còn được phép như trước do việc gỡ bỏ quy định 2.68.

Các thay đổi đối với quy định 2.72 liên quan đến hồ sơ đề cử TSS:

• Đối với dòng visa 482 ngắn hạn (TS) và trung-dài hạn (MT), ngành nghề định cư được kiểm tra dựa trên danh sách ngành nghề có hiệu lực tại thời điểm nộp hồ sơ đề cử và không bị xét lại sau đó.

• Dòng visa TSS chỉ áp dụng đối với các vị trí toàn thời gian.

• Yêu cầu về tiếng Anh trong mục 2.72(14) cho phép Bộ Trưởng “yêu cầu” rằng các đơn xin đề cử 457/TSS đối với những người đang giữ thị thực 457/TSS và muốn xin đề cử TSS mới cần phải tiếp tục đáp ứng yêu cầu tiếng Anh. Trong hầu hết các trường hợp, việc nộp đơn xin đề cử TSS và đơn xin visa cùng lúc không tạo sự khác biệt đáng kể.

• Mức Lương của Thị trường Úc (AMSR) được định nghĩa là một con số dự kiến đại diện cho mức lương mà một người Úc được trả cho cùng vị trí được đề cử. Con số cụ thể đối với AMSR sẽ cần được xác định cho ngành nghề cụ thể theo quy trình được vạch ra trong một văn bản hướng dẫn cụ thể.

• AMSR bao gồm bất kỳ các lợi ích phi tiền tệ khác phải không được ít hơn mức TSMIT trừ khi được miễn.

• Thu nhập hàng năm của người nộp đơn ở vị trí được đề cử không được ít hơn mức TSMIT trừ khi được miễn.

• Bộ Nội Vụ có quyền không đồng ý với cách tính AMSR nếu Bộ có cơ sở để tin rằng cách tính AMSR không phù hợp với điều kiện thị trường lao động tại Úc liên quan đến ngành nghề được đề cử.

>>>Xem thêm: Úc: Gia đình nhập cư thoát bị trục xuất chỉ vài phút trước khi lên máy bay trở về quê


Các thay đổi đối với Quy trình đề cử TSS theo quy định 2.73

• Hồ sơ đề cử cần nêu rõ địa điểm mà ngành nghề chỉ định sẽ được thực hiện

• Thời gian đề cử cũng cần được chỉ định (trước đây được thực hiện thông qua văn bản quy định)

• Thời gian đề cử cho dòng TSS ngắn hạn từ 1 đến 2 năm trừ khi áp dụng nghĩa vụ thương mại quốc tế (ITO), và cho dòng TSS trung-dài hạn là 1,2,3, hoặc 4 năm

• Trừ khi được miễn, người đề cử phải xác nhận rằng hợp đồng lao động tuân thủ theo các luật hiện hành của Khối thịnh vượng chung, tiểu bang hoặc vùng lãnh thổ liên quan đến việc làm, kể cả các tiêu chuẩn lao động quốc gia, nếu có. Người bảo lãnh lao động có thể cũng cần đến trợ giúp pháp lý của các luật sự chuyên về luật lao động để có thể tự tin xác nhận điều này.

• Theo điều khoản 2.73AA – Lệ phí hồ sơ đề cử TSS có thể được hoàn lại nếu do lỗi của Cơ quan di trú hoặc thỏa thuận lao động bị thu hồi trước khi được quyết định. Trước đây quy định đối với visa 457 là lệ phí được hoàn trả trong trường hợp công việc và các nghĩa vụ của người được đề cử không còn tương ứng với ngành nghề được phê duyệt cho dòng visa 457.

• Các điều khoản và điều kiện đối với TSS: thay vì so sánh với các điều khoản và điều kiện làm việc của một công dân Úc hoặc thường trú nhân, một loạt các tiêu chí so sánh riêng biệt được đặt ra liên quan đến thu nhập hằng năm, thu nhập chung và điều kiện làm việc.

• Quy định 2.84 yêu cầu nhà tài trợ phải thông báo cho cơ quan di trú nếu người được cấp TSS không bắt đầu làm việc theo như hợp đồng lao động.

• Các quyết định từ chối SBS cũng như hồ sơ đề cử khi nơi kinh doanh không thuộc phạm vi hoạt động hợp pháp tại Úc sẽ không thuộc phạm vi được khiếu nại tại Toà Phúc Thẩm (AAT) – điều này được chính thức hóa từ chính sách trước đó liên quan đến các bên tài trợ diện SBS cư trú bên ngoài nước Úc không thể khiếu nại tại tòa AAT.

• Hạn chế của dòng visa ngắn hạn 482 đối với các đơn xin nộp tại Úc: ứng viên không được nộp đơn tại Úc nếu đã giữ thị thực 482 ST trên 1 lần và đã nộp đơn xin 482 ST lần gần đây nhất tại Úc. Các điều khoản ITO cũng không được ứng dụng trong trường hợp này.

• Yêu cầu về Điều khoản 3 được gỡ bỏ, tuy nhiên người xin visa TSS phải đang giữ thị thực chính thức hoặc các loại visa chờ A, B, hoặc C tại thời điểm nộp đơn nếu ứng viên đang ở tại Úc.

• PIC 4007 áp dụng cho các đơn xin TSS cho phép áp dụng một khoản miễn trừ sức khỏe liên quan đến loại thị thực này. PIC 4006A trước đây dành cho thị thực 457 đã được loại bỏ.

• Các dòng TSS ngắn hạn, trung và dài hạn có thêm yêu cầu về ứng viên phải có kinh nghiệm trong ngành nghề được chỉ định trong ít nhất là 2 năm. Tuy nhiên không yêu cầu về trình độ kỹ năng cũng như kinh nghiệm phải liên quan đến bằng cấp được đào tạo. Có khả năng yêu cầu này sẽ được đưa vào văn bản hướng dẫn.

• Riêng đối với đơn xin TSS ngắn hạn, tiêu chí Người nhập cảnh đúng mục đích (GTE) được thêm vào các tiêu chí xét duyệt bao gồm việc xem xét ý định tạm trú tại Úc, tình huống nộp đơn, lịch sử nhập cư và bất kỳ vấn đề liên quan nào khác có liên quan.

• Định nghĩa của thành viên một đơn vị gia đình được đưa vào Điều khoản 2 đối với thị thực TSS

• Không có Điều khoản 3 đối với visa TSS

• Điều kiện 8607 là bắt buộc đối với người được cấp TSS chính, tương tự với điều kiện 8107 trước đó.

• Điều kiện 8501 (duy trì yêu cầu bảo hiểm y tế) áp dụng cho tất cả các chủ sở hữu visa TSS bao gồm cả chính và phụ.

• Điều kiện 8516 không còn được tham chiếu như một điều kiện tùy chọn.

• Theo khoản 116(1)(g)/ điều 2.43, các căn cứ bổ sung nhằm cho việc hủy bỏ visa được đưa thêm vào dòng thị thực 482. Điều này cho phép Bộ trưởng , sau khi visa được cấp, sẽ xem xét lại các vần đề sau:

o Liệu người sở hữu visa đã có ý định trung thực trong việc thực hiện công việc được chỉ định tại thời điểm cấp visa;

o Liệu người sở hữu visa đã không còn ý định trung thực trong việc thực hiện công việc được chỉ định; hoặc

o Liệu vị trí có liên quan đến ngành nghề được chỉ định là có thật.

• Nếu Bộ trưởng cho rằng bất kỳ yếu tố nào ở trên tồn tại thì thị thực 482 sẽ bị hủy bỏ. Điều này giảm khả năng người lao động có thể khiếu nại về điều kiện làm việc đối với người sử dụng lao động, cơ quan Fair Work của Úc hay những người khác.

(Còn tiếp)

Kelly Tran
Tạ Quang Huy & Cộng Sự

Báo Úc

Tin nước Úc

Tin tức Úc

Lan Anh
5 điểm/1 đánh giá (của bạn: chưa có)

Hãy chia sẽ những điều bổ ích đến những người thân thương của bạn !


Bình luận